Cấy máu ngoại vi phân tích nhiễm sắc thể

  1. Nguyên lý

Các tế bào lympho máu ngoại vi khi tiếp xúc với chất gây phân bào (mitogene) có khả năng chuyển dạng thành tế bào non và phân chia. Lợi dụng khả năng đó, người ta nuôi cấy máu ngoại vi trong môi trường có chất kích thích phân bào và sau đó làm ngừng phân bào ở kỳ giữa – giai đoạn có hình dạng nhiễm sắc thể (NST) điển hình để làm tiêu bản quan sát NST. Phân tích NST tế bào máu ngoại vi cho phép chẩn đoán các hội chứng di truyền do bất thường NST, xác định NST giới của cá thể hoặc phát hiện một số tổn thương NST.

  » Read more

Các phản ứng truyền máu và cách xử trí

Hình ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet

Máu và các chế phẩm, cũng như các loại thuốc khác và các phương pháp điều trị khác, đều có các tác dụng có lợi và tác dụng phụ không có lợi cho người bệnh. Thực hiện tốt an toàn truyền máu bao gồm  nắm vững những lợi ích mà truyền máu mang lại đồng thời hiểu rõ những nguy cơ do truyền máu có thể gây ra.

An toàn truyền máu là một quy trình khép kín gồm nhiều giai đoạn trong đó truyền máu lâm sàng đứng ở vị trí cuối cùng nhưng rất quan trọng. Ngân hàng máu phải đảm bảo cung cấp cho các bệnh viện các sản phẩm máu an toàn, có chất lượng. Các bác sĩ lâm sàng tại các bệnh viện có trách nhiệm chỉ định điều trị đúng và hợp lý máu & các chế phẩm, truyền máu và các chế phẩm đúng nguyên tắc và đúng quy trình, xử trí kịp thời và chính xác các tai biến truyền máu.

» Read more

Chỉ định sử dụng máu và các chế phẩm máu

Truyền máu là một phương pháp điều trị hiệu quả trong rất nhiều chuyên khoa. An toàn truyền máu đóng vai trò then chốt trong truyền máu. An toàn truyền máu là một quy trình khép kín gồm nhiều giai đoạn trong đó truyền máu lâm sàng có một vị trí quan trọng.

Truyền máu lâm sàng bao gồm hai lĩnh vực: lưu trữ và sử dụng máu và các chế phẩm máu. Lưu trữ bao gồm các hoạt động chuyên môn liên quan đến việc lưu trữ và phát máu và các chế phẩm. Lưu trữ máu và các chế phẩm máu được xếp vào truyền máu lâm sàng vì nó thuộc về trách nhiệm của các bệnh viện chứ không phải của các ngân hàng máu. Sử dụng máu và các chế phẩm bao gồm: chỉ định điều trị đúng và hợp lý máu và các chế phẩm, truyền máu và các chế phẩm đúng nguyên tắc và đúng quy trình, xử trí kịp thời và chính xác các tai biến truyền máu.

» Read more

Những hiểu biết cơ bản về các dòng hồng cầu, dòng bạch cầu, dòng tiểu cầu

Dòng hồng cầu

( – Tham khảo tài liệu Viện Huyết học và Truyền máu Trung Ương )

  • RBC (red blood cell) : là số lượng hồng cầu có trong một đơn vị máu. Đơn vị T/l
    • HGB: Nồng độ hemoglobin trong máu. Đơn vị tính bằng g/l hay g/dl (tương đương mg%), đo hàm lượng hemoglobin trong máu.
    • HCT – Hematocrit : dung tích hồng cầu, đây là phần trăm thể tích của máu mà các tế bào máu (chủ yếu là hồng cầu) chiếm.
    • RDW: dải phân bố kích thước hồng cầu, đo độ thay đổi của kích thước và hình dạng hồng cầu. Giá trị này càng cao có nghĩa là kích thước của hồng cầu thay đổi càng nhiều. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 11-15. Nếu để ý bạn sẽ thấy có một sơ đồ bên cạnh đó mà ở trục hoành có 2 giá trị 80 , 100 fl, và đồ thị hình parabol úp ngược – đây là đồ thị minh họa cho RDW
    • Các chỉ số hồng cầu:
    o MCV – thể tích trung bình hồng cầu, đơn vị thường dùng là femtolit (1 fl = 10-15lit)
    Bình thường : 90+- 5 fl
    MCV được tính bằng công thức: MCV = HCT / RBC. Giá trị MCV cho phép phân biệt các loại thiếu máu sau:
    Thiếu máu hồng cầu nhỏ – còn gọi là thiếu máu nhược sắc: khi MCV < 80 fl
    Thiếu máu hồng cầu to – còn gọi là thiếu máu ưu sắc: khi MCV > 100 fl
    Thiếu máu hồng cầu đẳng sắc : MCV bình thường
    Lí giải: Hemoglobin là một protein, do vậy nó cũng gây ra áp lực keo bên trong tế bào hồng cầu, điều này làm tế bào trương to, màng hồng cầu căng ( trong ưu sắc), hay teo nhỏ, màng hồng cầu nhẽo ( trong nhược sắc). Còn thiếu máu đẳng sắc không ảnh hưởng đến chất lượng tế bào hồng cầu.

    o MCH – số lượng hemoglobin trung bình trong một hồng cầu, đơn vị thường dùng là picogram (1 pg = 10-12g)

    » Read more