Sơ cứu cầm máu đúng phương pháp

Cầm máu phải thực hiện đúng nguyên tắc, đúng kỹ thuật thì mới bảo tồn được chi thể và tính mạng người bị thương. Người cấp cứu phải căn cứ  từng vết thương và tính chất chảy máu ở vết thương mà chọn biện pháp cầm máu thích hợp, không làm một cách tùy tiện, hoặc sai kỹ thuật, nhất là khi đặt garô, sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân.

Nhìn vết thương phân biệt tính chất chảy máu

» Read more

CHUẨN ĐOÁN, CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC CẤP

CHUẨN ĐOÁN, CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC CẤP

 Học viện Quân Y – PGS.TS Hoàng Công Minh

1. NGUYÊN TẮC CHUNG XỬ TRÍ NGỘ ĐỘC CẤP

Ngộ độc cấp có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tác nhân gây ngộ độc rất đa dạng: Hoá chất, thuốc, độc tố tự nhiên từ động vật, thực vật, nấm độc,… Cơ chế tác dụng, triệu chứng ngộ độc của các tác nhân có thể khác nhau và các biện pháp xử trí cụ thể có thể khác nhau, tuy nhiên có các nguyên tắc chung cho xử trí ngộ độc cấp.

» Read more

ĐẠI CƯƠNG BỆNH DA NGHỀ NGHIỆP

ĐẠI CƯƠNG BỆNH DA NGHỀ NGHIỆP

TS Nghiêm Thị Minh Châu- Học viện Quân Y 

 1. Định nghĩa: Bệnh da nghề nghiệp là bệnh da gây ra hay nặng thêm do tác hại của các yếu tố độc hại nghề nghiệp phát sinh trong quá trình làm việc.

2. Căn nguyên sinh bệnh: Bệnh da nghề nghiệp được xếp loại theo các căn nguyên bệnh như: cơ học; lý học; sinh học và hóa học. Bệnh da nghề nghiệp chiếm khoảng 50% bệnh da dị ứng, trong số đó 90% là do hoá chất.

» Read more

ĐỘC HỌC CHẤT ĐỘC NHÓM LÂN HỮU CƠ

ĐỘC HỌC CHẤT ĐỘC NHÓM LÂN HỮU CƠ

PGS.TS Hoàng Công Minh – Học Viện Quân Y

1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại chất độc nhóm lân hữu cơ

Khái niệm: Chất độc lân hữu cơ (LHC) bao gồm các hợp chất phốt pho hữu cơ có tác dụng chủ yếu với hệ thống thần kinh và gây chết người. Nhóm lân hữu cơ có thể còn được gọi theo các cách khác nhau: chất phốt pho hữu cơ gọi theo cấu trúc hoá học, chất kháng cholinesterase theo cơ chế tác dụng.

» Read more

BỆNH BỤI PHỔI AMIĂNG (ASBESTOSE)

BỆNH BỤI PHỔI AMIĂNG (ASBESTOSE)

Giảng viên: TS. Nghiêm Thị Minh Châu  – Học Viện Quân Y

  1. 1.     Đại cương:

1.1.   Định nghĩa:  Bệnh bụi phổi Amiăng (asbertose) là một bệnh xơ hoá phổi có hoặc không kết hợp với xơ hoá màng phổi, do bụi amiăng (bụi asbert) gây ra. Các tổn thương xơ hoá trong bệnh lý này không tạo thành các hạt trên hình ảnh Xquang và GPBL như trong bệnh bụi phổi Silic.

» Read more

Bệnh bụi phổi bông

BỆNH BỤI PHỔI BÔNG (BYSSINOSIS)

TS. Nghiêm Thị Minh Châu – Học viện Quân Y

  1. 1.     Đại cương:

Là tình trạng bệnh lý của đường hô hấp với biểu hiện khó thở cấp tính, kèm theo ho, tức ngực vào một hoặc nhiều ngày trong tuần làm việc và lâu ngày dẫn đến hội chứng tắc nghẽn do hít thở bụi bông, gai, lanh, đay… (còn gọi là bệnh hen của thợ dệt, bệnh sốt ngày thứ hai hay bệnh khó thở tức ngực ngày thứ hai). Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp (BBPBNN) đặc hiệu do bông, lanh, gai, đay nói chung có bệnh sử nghèo nàn, hình ảnh X quang không đặc hiệu, không có biến đổi bệnh lý ở phổi. Nguyên nhân được đề cập nhiều: vi khuẩn, nấm, khói thuốc lá, ô nhiễm môi trường. Trước đây, việc công nhận BBPBNN còn là điều miễn cưỡng đối với các thầy thuốc chuyên khoa về bệnh phổi nhưng gần đây, các biến đổi chức năng hô hấp đã chứng tỏ BBPB là một bệnh riêng có tính đặc trưng với tình trạng dị ứng dạng khó thở, xuất hiện khi tiếp xúc lại với bụi sau ngày nghỉ hàng tuần của thợ dệt.

1.1.    Khái niệm về bệnh:

» Read more

THUỐC CHỐNG ĐỘC ĐẶC HIỆU

 THUỐC CHỐNG ĐỘC ĐẶC HIỆU

                  PGS.TS Hoàng Công Minh – Học Viện Quân Y

1. KHÁI NIỆM

1.1 Định nghĩa: Thuốc chống độc đặc hiệu (antidot) là những thuốc trực tiếp hoặc gián tiếp làm mất tác dụng của chất độc.

Thuốc chống độc đặc hiệu trong tiếng Anh là antidote. Từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “antidotos”, trong đó “anti” có nghĩa là chống lại + “dotos”- cái gì đó.

» Read more

Cơn đau thắt ngực – Cấp cứu

1- Triệu chứng:
– Hoàn cảnh xuất hiện: Thường xảy ra khi gắng sức, khi có stress, sau tắm lạnh, ăn quá nhiều. Có một thể tự phát, cơn đau đột nhiên xảy ra không liên quan đến hoàn cảnh trên.
– Cơn đau điển hình: đau đột ngột thường ở sau xương ức, vị trí 1/3 trên hay 1/3 giữa, cũng có thể đau ở vùng trước tim, tính chất đau như co thắt tim hoặc đau ức, đè nén buộc bệnh nhân phải ngừng các hoạt động, thậm chí ngừng thở. Đau có thể lan ra cánh tay trái hoặc cả 2 tay, 2 vai, lên cổ, lên hàm, ra sau lưng, kèm theo vã mồ hôi, lo lắng. Cơn đau mất đi nhanh chóng sau khi ngậm Nitroglycerin hoặc ngừng vận động.
Trên thực tế, cần lưu ý có những trường hợp không điển hình về tính chất đau, vị trí đau, cũng có những trưởng hợp bệnh nhân không đau (suy vành thầm lặng).
– Mạch, huyết áp bình thường, có thể tăng nhẹ.
– Điện tâm đồ trong cơn thấy đoạn ST chênh xuống, sóng T dương, nhọn, đối xứng (tổn thương và thiếu máu dưới nội tâm mạc) hoặc đoạn ST chênh lên, sóng T âm, nhọn, đối xứng (tổn thương và thiếu máu dưới thượng tâm mạc). Ngoài cơn đau, các sóng bệnh lý chỉ thấy ở khoảng 30% số bệnh nhân.
2- Xử trí:
-Cho bệnh nhân ngừng vận động, nằm nghỉ nơi yên tĩnh, thoáng, thở nhẹ nhàng, giải thích cho bệnh nhân tránh lo lắng.
– Cắt cơn đau: ngậm dưới lưỡi 1 viên Nitroglycerin 0,5 – 0,75mg, thuốc cắt cơn đau từ 30 giây đến 1 – 2 phút, kéo dài 30 phút. Có thể xịt Nitromint spray vào miệng 1 – 2 lần. Nếu có điều kiện ghi điện tâm đồ ngay.
Theo dõi huyết áp, mạch, cơn đau. Sau 10 -20 phút, nếu vẫn còn đau ngực thì cho ngậm lại 1 viên Nitroglycerin 0,5mg hoặc xịt Nitromint spray, thường thì với liều này là có kết quả. Nếu cơn đau kéo dài trên 20 phút mặc dù đã dùng Nitroglycerin thì phải lưu ý đến khả năng nhồi máu cơ tim, bệnh nhân cần được chuyển ngay lên tuyến trên.
Trong ngày có thể dùng thuốc nhiều lần nếu cơn đau lại tái diễn và bệnh nhân không bị đau đầu, hạ huyết áp. Chống chỉ định dùng Nitroglycerin khi huyết áp tâm thu < 100mmHg. Tăng nhãn áp.
– Bảo vệ tế bào cơ tim: Vastarel 20mg, uống 3 viên/ngày chia làm 2 lần.
– Có thể dùng thuốc an thần: Seduxen 5mg.
3- Điều kiện chuyển tuyến sau:
Nguyên nhân của cơn đau thắt ngực thuờng là do vữa xơ động mạch vành gây hẹp lòng mạnh làm một vùng của cơ tim bị thiếu máu nuôi dưỡng. Cơn đau thắt ngực dễ bị tái phát hoặc chuyển sang nhồi máu cơ tim, dễ gây rối loạn nhịp tim, đột tử… vì vậy khi bệnh nhân đã ổn định hoặc khi không cắt được cơn đau hoàn toàn (có thể cơn đau thắt ngực không ổn định), phải chuyển bệnh nhân lên tuyến trên để làm các thăm dò cần thiết xác định chuẩn đoán và nếu đúng là suy vành thì có phương hướng điều trị cơ bản. Phải bảo đảm hô hấp và tuần hoàn tốt trong quá trình chuyển bệnh nhân.

» Read more

1 2 3