Bài giảng Y Khoa

Định lượng protein toàn phần, albumin huyết tương – Định lượng amoniac máu

Xét nghiệm định lượng protein toàn phần, albumin huyết tương có ý nghĩa để đánh giá chức năng tổng hợp của gan.

Định  lượng protein  toàn  phần, albumin huyết tương

+ Bình thường: Protein huyết tương = 60 – 80 g/l, trong đó albumin =      38 – 54 g/l, globulin = 26 – 42 g/l. Người ta có thể dùng phương pháp điện di để phân tích và định lượng các thành phần protein huyết tương.

» Read more

Xét nghiệm sinh hóa Albumin trong máu

Albumin là một thành phần protein quan trọng nhất, chiếm tới 58-74% lượng protein toàn phần. Albumin đóng vai trò thiết yếu trong duy trì áp lực keo và tham gia vận chuyển nhiều chất trong cơ thể

Albumin là một thành phần protein quan trọng nhất, chiếm tới 58-74% lượng protein toàn phần. Albumin đóng vai trò thiết yếu trong duy trì áp lực keo và tham gia vận chuyển nhiều chất trong cơ thể (Vd: bilirubin, acid béo, thuốc và hormon). Khoảng 300-500g albumin được phân bố trong các dịch cơ thể, gan của một người lớn bình thường sản xuất khoảng 15g albumin mỗi ngày. Nửa đời sống của albumin vào khoảng 20 ngày, với khoảng 4% tổng lượng albumin chứa trong cơ thể được thoái giáng hàng ngày.

» Read more

Một số bệnh gan và các xét nghiệm sinh hoá

1. Viêm gan cấp

– Viêm gan virut cấp: Viêm gan do virut là một bệnh truyền nhiễm khá phổ biến, nhiều khi để lại hậu quả nặng trong đó có ung thư gan.
+ Các xét nghiệm sinh hoá cần làm gồm
– GOT, GPT huyết tương tăng nhanh, GPT tăng sớm trước khi có vàng da, mức tăng có thể tới 2000 – 3000 U/l.
GOT, GPT giảm nhanh trong vài ngày sau khi vàng da xuất hiện và trở về bình thường khoảng 2 – 5 tuần sau đó. Trong viêm gan kết hợp với nhiễm khuẩn (bạch cầu tăng), GOT và GPT tăng cao thường < 200 U/l, đạt cực đại sau 2 – 3 tuần từ lúc bệnh khởi phát và trở về bình thường ở tuần thứ 5.
– GGT cũng tăng cao, nhiều khi mức tăng cao hơn cả GPT. Điều đó nói lên GGT có nghĩa chẩn đoán sớm trong bệnh gan, mật.
– Trong viêm gan virut cấp, hoạt độ GPT > GOT > LDH.
– ALP và GGT tăng ít, chúng phản ánh tình trạng ứ mật nhẹ ở gan.
– CHE giảm từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 4.
– Bilirubin tăng: ở giai đoạn vàng da cấp, bilirubin trực tiếp tăng, chiếm 50 – 70% (bình thường 25 – 30%), sau đó bilirubin gián tiếp tăng một cách tương xứng.
– Sắt huyết tương tăng.
– Điện di protein huyết tương, kết quả thay đổi như sau (Hình 1.1). Albumin giảm. (1, (2 – globulin tăng trong giai đoạn đầu, sau giảm dần. (- globulin tăng k do ài. (- globulin tăng thường xuyên.
Sau 1 – 2 tuần điều trị, GOT và GPT trở về bình thường, GGT trở về bình thường chậm nhất, nhưng khi GGT trở về bình thường sẽ cho biết tế bào nhu mô gan đã ổn định – điều đó có gợi ý là xét nghiệm GGT còn có nghĩa tiên lượng, điều trị bệnh viêm gan virut.
Sau giai đoạn vàng da của bệnh viêm gan virut cấp, nếu điều trị tốt thì sẽ chuyển sang giai đoạn lui bệnh. Đây là giai đoạn khởi đầu cho sự hồi phục. Các biểu hiện của giai đoạn này là:
– Tăng bài niệu.
– Bilirubin niệu giảm dần và biến mất trong khi bilirubin huyết tương vẫn còn cao so với bình thường.
– Urobilinogen nước tiểu tăng.
– Bilirubin huyết tương tăng.
Nếu theo dõi và điều trị không tốt, viêm gan virut cấp dễ chuyển sang viêm gan mạn. * Viêm gan do rượu
– Tăng GGT kết hợp với MCV (thể tích trung bình hồng cầu) > 100 hoặc tăng riêng lẻ có giá trị chẩn đoán viêm gan do rượu.
– GOT tăng (<300U/l), nhưng GPT bình thường hoặc tăng nhẹ. Xét nghiệm GOT, GPT có độ đặc hiệu cao hơn nhưng độ nhạy thấp hơn so với GGT. Tỷ số GOT/GPT >1 kết hợp với GOT tăng (<300U/l) cho biết có khoảng 90% bệnh nhân bị bệnh gan do rượu. Điều này phân biệt với viêm gan virut có sự tăng đồng đều GOT và GPT.

– Trong viêm gan do rượu cấp, GGT thường tăng cao nhanh, mức tăng GGT > GOT. GGT thay đổi bất thường trong viêm gan do rượu, thậm chí cả ở người có tiền sử bệnh gan bình thường.
– Alkaline phosphatase, bilirubin huyết tương có thể bình thường hoặc tăng nhẹ nhưng không có giá trị chẩn đoán. Tuy nhiên, nếu bilirubin tiếp tục tăng trong suốt 1 tuần điều trị thì cần xem xét lại chẩn đoán.

» Read more

Xét nghiệm Creatinin máu và ứng dụng trong lâm sàng

CREATININ MÁU
(Créatininémia / Creatinine, Creatinine, blood,
Serum Creatinine)

NHẮC LẠI SINH LỶ
Creatinin trong cơ thể có nguồn gốc hỗn hợp:
– Nguổn gốc ngoại sinh do thức ăn cung cấp.
– Nguồn gốc nội sinh từ gan (tổng hợp từ arginin và methionin).
Một phần lớn creatin được duy trì ổn định trong các cơ vâm (140mg creatin/100g cơ
tươi).

Trong các cơ, enzym Creatin-Phospho-Kinase (CPK) xúc tác phản ứng:
Creatin-phosphat + ADP ↔ Creatin + ATP kèm với giải phóng năng lượng.
Creatin bị thoái bỉến trong các cơ thành creatinim, chất này được đưa trở lại tuần hoàn, rồi được thải trừ qua thận. Ở thận, Creatinin được lọc qua các cầu thận và không được ống thận tái hấp thu. Vì vậy, giá trị của creatin phản ánh toàn bộ khối cơ của một cá thể, trái lại giá trị của creatinin chủ yếu phản ánh chức năng thận của BN.

» Read more

Cơ sở lý thuyết chung về xét nghiệm điện giải

1. Cơ sở chung của máy xét nghiệm điện giải.

1.1. Tổng quan về chức năng của máu

Máu là một tổ chức quan trọng của cơ thể sống. Nó không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh học, lý học mà còn có ý nghĩa về bệnh lý. Những thay đổi về chỉ số hoá lý và các thành phần hoá học của các chất trong máu đều phản ánh những rối loạn chức năng của cơ quan hoặc bộ phận nào đó trong cơ thể. Tuy nhiên, khi cơ thể trở lại trạng thái khoẻ mạnh thì thành phần hoá học của máu cũng nhanh chóng được khắc phục; ở các tình trạng bệnh lý đặc biệt tức là trong tình trạng rối loạn chức phận của các cơ quan cơ thể dẫn đến sự thay đổi thành phần hoá học của máu. Do đó, các xét nghiệm hoá sinh về máu đóng vai trò quan trọng trong lâm sàng, giúp cho thầy thuốc chẩn đoán, theo dõi và điều trị bệnh.

Bình thường khi cơ thể khoẻ mạnh không có rối loạn về bệnh lý thì bên trong và ngoài màng tế bào luôn luôn có sự cân bằng về điện tích nhưng chỉ cần những rối loạn nhỏ như co cơ hay sau khi phẫu thuật… các bệnh về tim mạch thì sự cân bằng này sẽ bị phá vỡ làm cho nồng độ các ion tự do trong máu như Ca++, li+, Na+, Cl-, Mg++… có thể tăng hay giảm đột ngột. Có nhiều phương pháp đã được đề nghị để xác định nồng độ các chất trong dịch cơ thể. Đó là phép đo trọng lượng, đo độ đục, đo độ phát xạ ngọn lửa, hấp thụ nguyên tử và điện cực chọn lọc ion. Hiện nay chỉ có 2 phương pháp được dùng trong phòng xét nghiệm của bệnh viện. Đó là quang phổ phát xạ ngọn lửa và đo điện cực chọn lọc ion. Tuy nhiên phương pháp quang phổ phát xạ ngọn lửa bộc lộ rất nhiều hạn chế (độ an toàn, tính chính xác không cao) máy xét nghiệm điện giải ra đời đã gần như đáp ứng hoàn toàn được các yêu cầu của một xét nghiệm điện giải.

» Read more

Xét nghiệm Bilirubin và áp dụng trong thực hành lâm sàng

BILIRUBIN

NHẮC LẠI SINH LÝ

Bilirubin (sắc tố mật) có nguồn gốc chủ yếu từ quá trình phá hủy các hồng cầu và một mức ít hơn từ các cytochrom và myoglobin.

Quá trình phá hủy các hồng cầu có thể được tiến hành:
1. Trong tủy xương (quá trinhg tạo hồng cầu không hiệu quả).
2. Trong máu tuần hoàn (có các tự kháng thể).
3. Trong lách (sau một thời gian sống trung bình 120 ngày).

» Read more

Những thông số Hóa sinh trong các bệnh thận tiết niệu

1. Protein niệu :

Protein niệu là thông số hoá sinh có giá trị đánh giá các bệnh lý hệ thống tiết niệu, kể cả trong bệnh viện cũng như trong cộng đồng.
Bình thường khi xét nghiệm nước tiểu, người được gọi là không có bệnh lý về thận- tiết niệu, chúng ta không xác định được sự có mặt của protein niệu. Tuy nhiên khi protein niệu ( + ) cũng cần phải xem xét kỹ để xác định, bởi vì trong một vài trường hợp sinh lý cũng thấy protein trong nước tiểu.

1.1. Protein niệu sinh lý

» Read more

Những thông số Hóa sinh trong chẩn đoán bệnh gan mật

Về mặt hoá sinh, các thăm dò phát hiện bệnh lý gan mật có thể chia làm 2 nhóm:
*Nhóm thăm dò chức phận liên hợp và bài tiết bilirubin và các chức phận tổng hợp protein và albumin
* Nhóm thăm dò tổn thương gan bao gồm các xét nghiệm về enzym được giải phóng từ gan vào máu trong điều kiện có tổn thương gan và tắc mật ( các transaminase, phosphatase kiềm ).

1. Quá trình liên hợp và bài tiết Bilirubin của gan:
Bilirubin là sắc tố mật ( có trong mật) là sản phẩm thoái hoá của nhân porphyrin của Hem, tức là nhóm ngoại của hemoglobin (Hb).
Mỗi ngày có 50 umol ( 29 mg) bilirubin tự do ( còn gọi là bilirubin gián tiếp) được đổ vào huyết tương. Bilirubin này không tan trong nước, tan trong mỡ, nó được gắn với albumin huyết thanh vận chuyển tới gan, ở đó, nó được liên hợp với acid glucuronic để tạo thành bilirubin liên hợp ( hay bilirubin trực tiếp ), bilirubin này tan trong nước, thường không có trong huyết tương, qua ống mật (do cơ chế vận chuyển tích cực) đổ xuống tá tràng, ở ruột, nó được thuỷ phân bởi vi khuẩn ruột rồi bị khử thành urobilinogen và stercobilinogen. Những sản phẩm này không mầu, tiếp tục chuyển hoá theo 3 con đường:
+ Bị oxy hoá thành urobilin, stercobilin, có mầu. Phần lớn các chất này được đào thải qua phân.
+ Qua chu trình Ruột – gan để tái hấp thu trở về gan và đào thải lại qua mật.
+ Một phần nhỏ được đào thải qua nước tiểu.

» Read more

Xét nghiệm Amylase và áp dụng trong thực hành lâm sàng

AMYLASE

NHẮC LẠI SINH LÝ

Amylase là một enzym được sản xuất chủ yếu ở tụy và các tuyến nước bọt và với một lượng không đáng kể ở gan và vòi trứng. Amylase tham gia vào quá trình tiêu hóa các carbonhydrat phức tạp thành các đường đơn.

Hoạt độ amylase toàn phần có thể đo được trong huyết thanh, nước tiểu hay trong các dịch sinh học khác của cơ thể (vd: dịch cổ trướng, dịch màng phổi…). Hoạt độ toàn phần này là tổng hoạt độ của 2 isoenzym chính: isoenzym P có nguồn gốc từ tụy và isoenzym S có nguồn gốc từ tuyến nước bọt, phổi, sinh dục hay khối u. Trong huyết thanh của người bình thường, isoenzym typ S chiếm ưu thế hơn một chút. Thông thường, có thể đo được hoạt độ amylase trong huyết thanh và trong nước tiểu.

» Read more

1 2 3 5