Cấy máu ngoại vi phân tích nhiễm sắc thể

  1. Nguyên lý

Các tế bào lympho máu ngoại vi khi tiếp xúc với chất gây phân bào (mitogene) có khả năng chuyển dạng thành tế bào non và phân chia. Lợi dụng khả năng đó, người ta nuôi cấy máu ngoại vi trong môi trường có chất kích thích phân bào và sau đó làm ngừng phân bào ở kỳ giữa – giai đoạn có hình dạng nhiễm sắc thể (NST) điển hình để làm tiêu bản quan sát NST. Phân tích NST tế bào máu ngoại vi cho phép chẩn đoán các hội chứng di truyền do bất thường NST, xác định NST giới của cá thể hoặc phát hiện một số tổn thương NST.

  » Read more

Các phản ứng truyền máu và cách xử trí

Hình ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet

Máu và các chế phẩm, cũng như các loại thuốc khác và các phương pháp điều trị khác, đều có các tác dụng có lợi và tác dụng phụ không có lợi cho người bệnh. Thực hiện tốt an toàn truyền máu bao gồm  nắm vững những lợi ích mà truyền máu mang lại đồng thời hiểu rõ những nguy cơ do truyền máu có thể gây ra.

An toàn truyền máu là một quy trình khép kín gồm nhiều giai đoạn trong đó truyền máu lâm sàng đứng ở vị trí cuối cùng nhưng rất quan trọng. Ngân hàng máu phải đảm bảo cung cấp cho các bệnh viện các sản phẩm máu an toàn, có chất lượng. Các bác sĩ lâm sàng tại các bệnh viện có trách nhiệm chỉ định điều trị đúng và hợp lý máu & các chế phẩm, truyền máu và các chế phẩm đúng nguyên tắc và đúng quy trình, xử trí kịp thời và chính xác các tai biến truyền máu.

» Read more

Xơ vữa động mạch

Mục tiêu

–       Nắm vững một số giả thuyết về cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ vữa xơ động mạch.

–       Vận dụng được các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trong chẩn đoán vữa xơ động mạch.

–       Nắm vững nguyên tắc điều trị, các phương tiện điều trị chính.

» Read more

Bệnh cơ tim giãn

  1. ĐỊNH NGHĨA

Bệnh cơ tim dãn là hội chứng dãn thất trái với sự gia tăng khối lượng thất chủ yếu là thất trái với rối loạn chức năng tâm thu hay tâm trương mà không có tổn thuơng nguyên phát màng ngoài tim, van tim hay thiếu máu cơ tim.

Trên lâm sàng bệnh cơ tim dãn được biểu thị qua sự dãn hai thất, thất trái nhiều hơn thất phải, do sự ứ trệ trong buồng thất, là nguồn gốc các cục máu đông gây tắc mạch.

» Read more

Cơn đau thắt ngực – Cấp cứu

1- Triệu chứng:
– Hoàn cảnh xuất hiện: Thường xảy ra khi gắng sức, khi có stress, sau tắm lạnh, ăn quá nhiều. Có một thể tự phát, cơn đau đột nhiên xảy ra không liên quan đến hoàn cảnh trên.
– Cơn đau điển hình: đau đột ngột thường ở sau xương ức, vị trí 1/3 trên hay 1/3 giữa, cũng có thể đau ở vùng trước tim, tính chất đau như co thắt tim hoặc đau ức, đè nén buộc bệnh nhân phải ngừng các hoạt động, thậm chí ngừng thở. Đau có thể lan ra cánh tay trái hoặc cả 2 tay, 2 vai, lên cổ, lên hàm, ra sau lưng, kèm theo vã mồ hôi, lo lắng. Cơn đau mất đi nhanh chóng sau khi ngậm Nitroglycerin hoặc ngừng vận động.
Trên thực tế, cần lưu ý có những trường hợp không điển hình về tính chất đau, vị trí đau, cũng có những trưởng hợp bệnh nhân không đau (suy vành thầm lặng).
– Mạch, huyết áp bình thường, có thể tăng nhẹ.
– Điện tâm đồ trong cơn thấy đoạn ST chênh xuống, sóng T dương, nhọn, đối xứng (tổn thương và thiếu máu dưới nội tâm mạc) hoặc đoạn ST chênh lên, sóng T âm, nhọn, đối xứng (tổn thương và thiếu máu dưới thượng tâm mạc). Ngoài cơn đau, các sóng bệnh lý chỉ thấy ở khoảng 30% số bệnh nhân.
2- Xử trí:
-Cho bệnh nhân ngừng vận động, nằm nghỉ nơi yên tĩnh, thoáng, thở nhẹ nhàng, giải thích cho bệnh nhân tránh lo lắng.
– Cắt cơn đau: ngậm dưới lưỡi 1 viên Nitroglycerin 0,5 – 0,75mg, thuốc cắt cơn đau từ 30 giây đến 1 – 2 phút, kéo dài 30 phút. Có thể xịt Nitromint spray vào miệng 1 – 2 lần. Nếu có điều kiện ghi điện tâm đồ ngay.
Theo dõi huyết áp, mạch, cơn đau. Sau 10 -20 phút, nếu vẫn còn đau ngực thì cho ngậm lại 1 viên Nitroglycerin 0,5mg hoặc xịt Nitromint spray, thường thì với liều này là có kết quả. Nếu cơn đau kéo dài trên 20 phút mặc dù đã dùng Nitroglycerin thì phải lưu ý đến khả năng nhồi máu cơ tim, bệnh nhân cần được chuyển ngay lên tuyến trên.
Trong ngày có thể dùng thuốc nhiều lần nếu cơn đau lại tái diễn và bệnh nhân không bị đau đầu, hạ huyết áp. Chống chỉ định dùng Nitroglycerin khi huyết áp tâm thu < 100mmHg. Tăng nhãn áp.
– Bảo vệ tế bào cơ tim: Vastarel 20mg, uống 3 viên/ngày chia làm 2 lần.
– Có thể dùng thuốc an thần: Seduxen 5mg.
3- Điều kiện chuyển tuyến sau:
Nguyên nhân của cơn đau thắt ngực thuờng là do vữa xơ động mạch vành gây hẹp lòng mạnh làm một vùng của cơ tim bị thiếu máu nuôi dưỡng. Cơn đau thắt ngực dễ bị tái phát hoặc chuyển sang nhồi máu cơ tim, dễ gây rối loạn nhịp tim, đột tử… vì vậy khi bệnh nhân đã ổn định hoặc khi không cắt được cơn đau hoàn toàn (có thể cơn đau thắt ngực không ổn định), phải chuyển bệnh nhân lên tuyến trên để làm các thăm dò cần thiết xác định chuẩn đoán và nếu đúng là suy vành thì có phương hướng điều trị cơ bản. Phải bảo đảm hô hấp và tuần hoàn tốt trong quá trình chuyển bệnh nhân.

» Read more